4 XU HƯỚNG THƯƠNG MẠI SAU COVID-19 TẠI VIỆT NAM

Các hạn chế do các Chính phủ áp đặt nhằm ngăn chặn sự lây lan của virus COVID-19 đã đưa nền kinh tế thế giới đột ngột dừng lại. Điều này đã dẫn đến sự giảm mạnh giá trị thương mại, do sự sụt giảm của nhu cầu (đặc biệt đối với năng lượng) và tạo ra nền kinh tế giảm phát.

Kinh tế Việt Nam tuy bị ảnh hưởng nặng nề, nhưng mau chóng phục hồi nhờ các biện pháp kiểm soát dịch bệnh tốt. Tuy nhiên, đại dịch cũng giúp chúng ta nhìn lại về thương mại và xác định tăng trưởng bền vững hơn, tập trung theo 4 xu hướng sau:

1. Khử Cacbon

Đại dịch Covid-19 và những cơn bão liên tiếp năm qua như nhấn mạnh hơn nữa tác động của con người đến tự nhiên và cách các mối đe dọa đối với đa dạng sinh học và khí hậu khiến dễ bị dịch bệnh hơn. Kích thích tài chính đang được thực hiện để khởi động lại nền kinh tế hy vọng sẽ chứa đựng một yếu tố “xanh, sạch” lớn hơn có thể giúp đẩy nhanh quá trình khử cacbon của nền kinh tế trong giai đoạn tới, đặc biệt là kiểm soát ô nhiễm tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đang được nói đến thường xuyên.

Khử cacbon sẽ làm giảm khối lượng thương mại và mất cân bằng thương mại, nhưng không nhất thiết phải trả giá bằng hiệu quả động. Thương mại hydrocacbon chiếm khoảng 1,100 tỷ USD hay 6% tổng thương mại hàng hóa toàn cầu. Khi thêm thương mại các dẫn xuất hydrocacbon như hóa dầu và các sản phẩm tinh chế, tỷ trọng sẽ tăng lên khoảng 12%. Việc khử cacbon toàn phần rất khó xảy ra, nhưng xu hướng thay thế hydrocacbon trong năng lượng rõ ràng sẽ được áp dụng tại Việt Nam khi kích thích tài khóa với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế số. Tuy nhiên cần lưu ý rằng năng lượng sản xuất tại địa phương sẽ ít được giao dịch rộng rãi trên thị trường quốc tế.

2. Rút ngắn chuỗi cung ứng – từ hiệu quả sang an toàn

COVID-19 đã làm sâu sắc thêm sự phân chia của chuỗi giá trị toàn cầu. Sự phụ thuộc vào Trung Quốc sẽ giảm, chuỗi giá trị toàn cầu sẽ được rút ngắn. Doanh nghiệp sẽ chuyển từ việc sản xuất hiệu quả nhất sang cân bằng với an toàn hơn và chúng ta có thể thấy nội địa hóa sản xuất nhiều hơn. Mong muốn đa dạng hóa sản xuất toàn cầu khỏi Trung Quốc đã xuất hiện, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhật Bản, EU và Mỹ. Khoảng 44% sản xuất của Trung Quốc được xuất khẩu và khoảng 13% tổng số lao động của Trung Quốc liên quan trực tiếp đến xuất khẩu. Việt Nam sẽ ưu tiên thương mại khu vực (ASEAN, Đông Á) và thiết lập chuỗi cung ứng ngắn hơn để tận dụng các cơ hội từ các FTA đã ký để thu hút làn sóng FDI dịch chuyển nhà máy và tạo việc làm cho người dân.

3. Đẩy mạnh phát triển hạ tầng và công nghiệp phụ trợ

Điểm yếu quốc gia mà Việt Nam gặp phải khi các doanh nghiệp toàn cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng đó là hạ tầng còn kém phát triển và sự thiếu hụt của công nghiệp phụ trợ. Hạ tầng ở Việt Nam còn kém khi giao thông được xem là đắt nhất thế giới cùng với sự thiếu chắc chắn về logistics, thủ tục hải quan phức tạp… đang cản trở điểm số hấp dẫn trong thu hút FDI. Mặc dù vậy, mức giá cho thuê tại các khu công nghiệp ở Việt Nam đã tăng 30% trong 1 năm qua (hiện có 261 khu công nghiệp đang hoạt động trên cả nước). Đông Nam Bộ vẫn đang dẫn đầu cả nước về tỷ lệ lấp đầy đi kèm với chi phí cho thuê kho, container tăng cao (Covid-19 hỗ trợ bùng nổ thương mại điện tử).

Để không đứng ngoài chuỗi cung ứng toàn cầu, Chính phủ đang đẩy mạnh các dự án tỷ đô và ưu đãi thuế để đón các tập đoàn lớn về cung cấp các linh kiện, thiết bị hỗ trợ cho các ngành công nghiệp như điện, điện tử, xe hơi,…Điều này giúp cán cân thương mại thặng dư khoảng 19 tỷ USD (cao nhất trong những năm qua) và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam khoảng 20 tỷ USD.

4. Sử dụng AI, dữ liệu lớn và robot trong vận hành

Công nghệ đã được sử dụng rộng rãi để ngăn chặn sự lây lan của vi rút. Điều này đã làm nổi bật cả những tác động tích cực của công nghệ và rủi ro của nó đối với quyền tự do cá nhân khi bị lạm dụng. Đại dịch đã ép dẫn đến việc sử dụng rộng rãi Trí tuệ nhân tạo và “Dữ liệu lớn”. Điều này sẽ bao gồm việc sử dụng các loại tiền kỹ thuật số có tiềm năng, trong số những thứ khác, để chuyển đổi hệ thống thanh toán. Những tiến bộ trong công nghệ robot và tự động hóa sẽ giúp thúc đẩy quá trình vận hành và cải thiện năng suất. Một trong những động lực chính của thương mại toàn cầu, có lẽ chiếm tới 1/3 mức tăng trưởng trong 20 năm qua là chênh lệch giá lao động – tiền lương. Với những tiến bộ trong chế tạo robot, thành phần chi phí lao động trong sản xuất hiện đang giảm xuống.